Hướng dẫn Lịch sử Việt Nam từ 1858-1918

Thảo luận trong 'Lịch sử 8' bắt đầu bởi Trang Dimple, 7/12/16.

Lượt xem: 199

  1. Trang Dimple

    Trang Dimple Moderator
    Bài viết:
    1,153
    Đã được thích:
    78
    Thành viên BQT

    LỊCH SỬ VIỆT NAM (TỪ 1858 ĐẾN 1918)


    Chương I. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp từ 1858 đến cuối TK XIX

    I- CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP TỪ 1858-1884

    1. Nguyên nhân thực dân Pháp xâm lược nước ta.

    a. Nguyên nhân sâu xa.

    - Khách quan: Đầu thế kỉ XIX, chủ nghĩa tư bản Phương tây đang trên đà phát triển và đẩy mạnh quá trình xâm lược thuộc địa ở Châu Á, Phi nhằm mở rộng thị trường tiêu thụ và vơ vét các nguồn tài nguyên phục vụ cho quá trình phát triển đó.

    - Chủ quan:

    + Việt Nam là nước có vị trí chiến lược quan trọng ở Châu Á, cầu nối giữa ĐNÁ đất liền và ĐNÁ hải đảo; giàu tài nguyên thiên nhiên, nguồn lao động dồi dào, rẻ mạt.

    + Chế độ phong kiến đang trên đà khủng hoảng và suy yếu, thi hành những chính sách đối nội, đối ngoại lỗi thời, bảo thủ, chính sách “ Bế quan tỏa cảng ” với bên ngoài nhất là với các nước Phương tây.

    b. Nguyên nhân trực tiếp.

    - Lấy cớ triều đình Huế thực hiện chính sách cấm đạo và giết đạo không cho chúng truyền đạo ở Việt Nam.

    - Chiều ngày 31/8/1858, 3000 liên quân Pháp – Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng.

    - Sáng ngày 1/9/1858, quân Pháp nổ súng xâm lược nước ta tại Bán đảo Sơn Trà ( ĐNẵng) mở đầu quá trình xâm lược Việt Nam của TD Pháp.

    2. Quá trình xâm lược của TD Pháp.

    - Chiều ngày 31/8/1858, 3000 quân Pháp và Tây Ban Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng.

    - Sáng ngày 1/9/1858: Pháp nổ súng xâm lược nước ta, sau 5 tháng xâm lược chúng chiếm được bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng).

    - Thất bại ở kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” – Pháp thay đổi kế hoạch:

    - Đầu tháng 2/1859, quân Pháp kéo vào Gia Định.

    - Ngày 17/2/1859, Chúng tập trung đánh thành Gia Định, quân triều đình chống cự yếu ớt rồi tan rã.

    - Năm 1861, Pháp đánh rộng ra các tỉnh miền Đông Nam Kì, chiếm được 3 tỉnh : Định Tường, Biên Hoà và Vĩnh Long.

    - Ngày 5/6/1862, triều đình kí hiệp Huế kí với Pháp Hiệp ước Nhâm Tuất nhượng cho Pháp nhiều quyền lợi, cắt một phần lãnh thổ cho Pháp (3 tỉnh miền Đông Nam Kì: Gia Định, Định Tường, Biên Hoà + đảo Côn Lôn).

    - Năm 1867, Pháp chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kì (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Sau đó xúc tiến công cuộc đánh chiếm ra Bắc Kì.

    - Năm 1873, Pháp đánh ra Bắc Kì lần I.

    - Năm 1874, Triều đình Huế kí hiệp ước Giáp Tuất (chính thức thừa nhận 6 tỉnh Nam Kì thuộc Pháp) -> Làm mất một phần lãnh thổ quan trọng và quyền ngoại giao của Việt Nam

    - Năm 1882, Pháp đánh ra Bắc Kì lần II: Chiếm được Bắc Kì.

    - Năm 1883, Nhân lúc triều đình Nguyễn lục đục, chia rẽ, vua Tự Đức chết… Pháp kéo quân vào cửa biển Thuận An uy hiếp, buộc triều đình ký hiệp ước Hác-măng (25/8/1883) với nội dung quan trọng:

    - Triều đình Huế chính thức thừa nhận nền bảo hộ của Pháp ở Bắc Kì và Trung Kì, cắt tỉnh Bình Thuận ra khỏi Trung Kì để nhập vào đất Nam Kì thuộc Pháp.

    - Ba tỉnh Thanh-Nghệ-Tĩnh được sáp nhập vào Bắc Kì .

    - Triều đình chỉ được cai quản vùng đất trung kì nhưng mọi việc đều phải thông qua viên khâm sứ của Pháp ở Huế.

    - Công sứ Pháp ở các tỉnh Bắc Kì thường xuyên kiểm soát những công việc của quan lại triều đình, nắm các quyền trị an và nội vụ.

    - Mọi việc giao thiệp với nước ngoài (kể cả với Trung Quốc) đều do Pháp nắm.

    - Triều đình Huế phải rút quân đội từ Bắc Kì về Trung Kì.

    - Năm 1884, Pháp tiếp tục ép triều đình Huế phải ký hiệp ước Pa-tơ-nốt (6/6/1884). Có nội dung cơ bản giống Hiệp ước Hác-măng, chỉ sửa đổi đôi chút về ranh giới khu vực trung kì nhằm xoa dịu dư luận và lấy lòng vua quan phong kiến bù nhìn -> Đặt cơ sở lâu dài cho quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam.

    * Nhận xét: Sau gần 30 năm, TD Pháp với những thủ đoạn, hành động trắng trợn đã từng bước đặt ách thống trị trên đất nước ta. Hiệp ước Pa-tơ-nốt đã chấm dứt sự tồn tại của triều đình phong kiến nhà Nguyễn. “Với tư cách là quốc gia độc lập, thay vào đó là chế độ Thuộc địa nửa PK” -> kéo dài cho đến tháng 8.1945.

    3. Phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta (1858-1884).

    a. Hoàn cảnh lịch sử:

    - Ngày 1/9/1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu công cuộc xâm lược nước ta.

    - Nhân dân 2 miền Nam-Bắc đã vùng lên đấu tranh theo bước chân xâm lược của Pháp.

    b. Quá trình kháng chiến:

    * Từ 1858-1862: Nhân dân Nam Kì cùng với quân triều đình đứng lên chống Pháp xâm lược.

    - Năm 1858 trước sự xâm lược của TD Pháp, đội quân của Phạm Gia Vĩnh và quân triều đình do Nguyễn Tri Phương chỉ huy đắp thành luỹ, bao vây địch, thực hiện “vườn không nhà trống”, giam chân địch suốt 5 tháng liền làm thất bại âm mưu đánh nhanh thắng nhanh của chúng; ở Miền Bắc có đội quân học sinh gần 300 người do Phạm Văn Nghị đứng đầu xin vào Nam chiến đấu.

    - Năm 1859. Quân Pháp chiếm Gia Định, nhiều đội quân của nhân dân hoạt động mạnh, làm cho quân Pháp khốn đốn. Tiêu biểu là khởi nghĩa của nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Ét-pê-răng ngày 10.12.1861 trên sông Vàm cỏ Đông.

    * Từ 1862-1884: => Nhân dân vẫn tự động kháng chiến mặc dù khi nhà Nguyễn đầu hàng từng bước rồi đầu hàng hoàn toàn.

    - Năm 1862, nhà Nguyễn kí hiệp ước Nhâm Tuất cắt cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kì và Đảo Côn Lôn, phong trào phản đối lệnh bãi binh và phản đối hiệp ước lan rộng ra 3 tỉnh Miền Đông. Đỉnh cao là khởi nghĩa Trương Định với ngọn cờ “Bình Tây đại Nguyên Soái”.

    -> Nhân dân khắp nơi nổi dậy, phong trào nổ ra gần như Tổng khởi nghĩa: Căn cứ chính ở Tân Hoà (Gò Công) làm cho Pháp và triều đình khiếp sợ.

    - Năm 1867, Pháp chiếm nốt 3 tỉnh Miền tây Nam Kì: nhân dân miền Nam chiến đấu với nhiều hình thức phong phú như: KN vũ trang, dùng thơ văn để chiến đấu (Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị). TD Pháp cùng triều đình tiếp tục đàn áp, các thủ lĩnh đã hy sinh anh dũng và thể hiện tinh thần khẳng khái anh dũng bất khuất.

    + Nguyễn Hữu Huân: 2 lần bị giặc bắt, được thả vẫn tích cực chống Pháp, khi bị đưa đi hành hình ông vẫn ung dung làm thơ.

    + Nguyễn Trung Trực: bị giặc bắt đem ra chém, ông đã khẳng khái tuyên bố “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”.

    * Năm 1873, TD Pháp xâm lược Bắc Kì lần I: nhân dân Hà Nội dưới sự chỉ huy của Nguyễn Tri Phương đã chiến đấu quyết liệt để giữ thành Hà Nội (quấy rối địch, đốt kho đạn, chặn đánh địch ở cửa Ô Thanh Hà), Pháp đánh rộng ra các tỉnh nhưng đi đến đâu cũng vấp phải sự phản kháng quyết liệt của nhân dân Miền Bắc.

    - Ngày 21.12.1873, Đội quân của Hoàng Tá Viêm và quân cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc đã phục kích giặc ở Cầu Giấy, giết chết tướng Gác-ni-ê, làm quân Pháp hoảng sợ.

    * Năm 1882. Pháp đánh Bắc Kì lần II: Cuộc chiến đấu giữ thành Hà Nội của tổng đốc Hoàng Diệu bị thất thủ, nhưng nhân dân Hà Nội vẫn kiên trì chiến đấu với nhiều hình thức: không bán lương thực, đốt kho súng của giặc.

    - Ngày 19/5/1883 Đội quân cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc phối hợp với quân của Hoàng Tá Viêm phục kích trận Cầu Giấy lần II và giết chết tướng Ri-vi-e, tạo không khí phấn khởi cho nhân dân Miền Bắc tiếp tục kháng chiến.

    - Từ 1883-1884, triều đình Huế đã đầu hàng hoàn toàn TD Pháp (qua 2 hiệp ước: Hác-măng và Pa-tơ-nốt) triều đình ra lệnh bãi binh trên toàn quốc nhưng nhân dân vẫn quyết tâm kháng chiến, nhiều trung tâm kháng chiến được hình thành phản đối lệnh bãi binh của triều đình.

    => Nhận xét: Như vậy, giặc Pháp đánh đến đâu nhân dân ta bất chấp thái độ hèn nhát của triều đình nhà Nguyễn đã nổi dậy chống giặc ở đó bằng mọi vũ khí, nhiều hình thức, cách đánh sáng tạo, thực hiện ở 2 giai đoạn:

    + Từ 1858-1862: Nhân dân cùng sát cánh với triều đình đánh giặc.

    + Từ 1862-1884: Sau điều ước Nhâm Tuất (1862), triều Nguyễn từng bước nhượng bộ, đầu hàng Pháp thì nhân dân 2 miền Nam-Bắc tự động kháng chiến quyết liệt hơn làm phá sản kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Pháp, làm cho chúng phải mất gần 30 năm mới bình định được Việt Nam.

    II. PHONG TRÀO KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP TỪ 1884 -> ĐẦU TK XX (CUỐI TK XIX- ĐẦU TK XX).

    1. Hoàn cảnh lịch sử: (Nguyên nhân của phong trào kháng chiến)

    - Sau khi buộc triều đình Nguyễn kí Hiều ước Hác-măng, Pa-tơ-nốt, TD Pháp cơ bản hoàn thành công cuộc xâm lược Việt Nam.

    - Trong nội bộ triều đình nhà Nguyễn có sự phân hoá sâu sắc thành 2 bộ phận:

    + Phe chủ chiến.

    + Phe chủ hoà.

    - Phe chủ chiến đứng đầu là Tôn Thất Thuyết quyết tâm chống Pháp với các hoạt động:

    + Xây dựng căn cứ, chuẩn bị vũ khí.

    + Đưa Hàm Nghi lên ngôi vua.

    - Tháng 7.1885, Tôn Thất Thuyết chủ động nổ súng trước tấn công Pháp ở Tòa khâm sứ và đồn Mang Cá -> kết quả bị thất bại, ông đưa vua Hàm Nghi ra vùng núi Tân Sở- Quảng Trị xây dựng căn cứ kháng chiến.

    - Ngày 13.7.1885, Tại đây, Tôn Thất Thuyết nhân danh vua Hàm Nghi ra Chiếu Cần Vương với nội dung chính: Kêu gọi nhân dân giúp Vua cứu nước. Vì vậy đã làm bùng nổ phong trào kháng chiến lớn, sôi nổi và kéo dài đến cuối TK XIX được gọi là “Phong trào Cần Vương” (song song là phong trào KN nông dân Yên Thế và phong trào chống Pháp của đồng bào Miền Núi cuối TK XIX).

    2. Phong trào Cần Vương (1885-1896)

    a. Nguyên nhân: Sơ lược hoàn cảnh lịch sử (phần 1).

    b. Diễn biến: chia làm 2 giai đoạn.

    * Giai đoạn 1: 1885-1888.

    - Hưởng ứng chiếu Cần Vương, phong trào kháng chiến bùng lên rộng khắp ở Bắc và Trung Kì, có nhiều cuộc khởi nghĩa lớn nổ ra.

    - TD Pháp ráo riết truy lùng- Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi về căn cứ Sơn Phòng, Phú Gia thuộc Hương Khê, Hà Tĩnh. Quân giặc lùng sục, Ông lại đưa vua quay lại Quảng Bình- làm căn cứ chỉ huy chung phong trào khắp nơi.

    - Trước những khó khăn ngày càng lớn, Tôn Thất Thuyết sang Trung Quốc cầu viện (cuối 1886).

    - Cuối 1888, quân Pháp có tay sai dẫn đường đột nhập vào căn cứ, bắt sống vua Hàm Nghi và đưa đi đày biệt xứ sang An-giê-ri (Châu Phi).

    * Giai đoạn 2: 1888-1896

    - Vua Hàm Nghi bị bắt, phong trào khởi nghĩa vũ trang vẫn tiếp tục phát triển.

    - Nghĩa quân chuyển địa bàn hoạt động từ đồng bằng lên Trung du miền núi và quy tụ thành những cuộc KN lớn, khiến cho Pháp lo sợ và phải đối phó trong nhiều năm. (KN: B.Đình, Bãi Sậy, Hương Khê).

    c. Những cuộc khởi nghĩa lớn trong phong trào Cần Vương.

    * KN Ba Đình (1886-1887).

    - Căn cứ: 3 làng kề nhau giữa vùng chiêm trũng: Mĩ Khê, Mậu Thịnh, Thượng Thọ (Nga Sơn, Thanh Hoá) -> Là một căn cứ kiên cố, có thể kiểm soát các đường giao thông, xây dựng công sự có tính chất liên hoàn, hào giao thông nối với các công sự (nhưng mang tính chất cố thủ).

    - Sự bố trí của nghĩa quân: Lợi dụng bề mặt địa thế, nghĩa quân lấy bùn trộn rơm cho vào rọ xếp lên mặt thành, sử dụng lỗ châu mai quân sự.

    - Lãnh đạo: Phạm Bành, Đinh Công Tráng.

    - Diễn biến: Từ 12/1886 -> 1/1887, quân Pháp mở cuộc tấn công quy mô lớn vào căn cứ, nghĩa quân chiến đấu và cầm cự trong suốt 34 ngày đêm làm cho hàng trăm lính Pháp bị tiêu diệt. Quân Pháp liều chết cho nổ mìn phá thành, phun dầu đốt rào tre, Ba Đình biến thành biển lửa.

    - K.quả: Tháng 1/1887, nghĩa quân phải rút lên căn cứ Mã Cao (T Hoá), chiến đấu thêm một thời gian rồi tan rã.

    * Khởi nghĩa Bãi Sậy: (1883-1892).

    - Lãnh đạo: Nguyễn Thiện Thuật, Đinh Gia Quế.

    - Căn cứ:

    + Thuộc các huyện: Văn Lâm, Văn Giang, Khoái Châu, Yên Mỹ (Hưng Yên).

    + Dựa vào vùng đồng bằng cỏ lau sậy um tùm, đầm lầy, ngay trong vùng kiểm soát của địch để kháng chiến.

    - Chiến Thuật: Lối đánh du kích.

    - Tổ chức: Theo kiểu phân tán lực lượng thành nhiều nhóm nhỏ ở lẫn trong dân, vừa sản xuất, vừa chiến đấu.

    - Địa bàn hoạt động: Từ Hưng Yên đánh rộng ra các vùng lân cận.

    - Diễn biến: Nghĩa quân đánh khiêu khích, rồi đánh rộng ra các tỉnh lân cận, tấn công các đồn binh nhỏ, chặn phá đường giao thông, cướp súng, lương thực.

    - Kết quả: Quân Pháp phối hợp với tay sai do Hoàng Cao Khải cầm đầu, ồ ạt tấn công vào căn cứ làm cho lực lượng nghĩa quân suy giảm rơi vào thế bị bao vây cô lập. Cuối năm 1898 Nguyễn Thiện Thuật sang Trung Quốc, phong trào phát triển thêm một thời gian rồi tan rã.

    * Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895).

    - Lãnh đạo: Phan Đình Phùng và nhiều tướng tài (tiêu biểu: Cao Thắng).

    - Lực lượng tham gia: Đông đảo các văn thân, sĩ phu yêu nước cùng nhân dân.

    - Căn cứ chính: Ngàn Trươi (Hà Tĩnh)- có đường thông sang Lào.

    - Địa bàn hoạt động: Kéo dài trên 4 tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.

    - Chiến Thuật: Lối đánh du kích.

    - Tổ chức: Theo lối chính quy của quân đội nhà Nguyễn: lực lượng nghĩa quân chia làm 15 thứ (mỗi thứ có 100 -> 500 người) phân bố trên địa bàn 4 tỉnh – biết tự chế tạo súng.

    - Diễn biến: Cuộc KN chia làm 2 giai đoạn:

    + 1885-1888: là giai đoạn chuẩn bị, tổ chức, huấn luyện, xây dựng lực lượng, chuẩn bị khí giới.

    + 1888-1895: Là thời kì chiến đấu, dựa vào địa hình hiểm trở, nghĩa quân đẩy lùi nhiều cuộc càn quét của địch. Để đối phó, Pháp đã tập trung binh lực, xây dựng đồn bốt dày đặc, bao vây cô lập nghĩa quân, mở nhiều cuộc tấn công quy mô lớn vào Ngàn Trươi.

    - Kết quả: Nghĩa quân chiến đấu trong điều kiện ngày càng gian khổ do bị bao vây, cô lập, lực lượng suy yếu dần, Chủ tướng Phan Đình Phùng hy sinh 28/12/1895, cuộc khởi nghĩa duy trì thêm một thời gian rồi tan rã.

    - Ý nghĩa: Khởi nghĩa Hương Khê:

    -> Đánh dấu bước phát triển cao nhất của phong trào Cần Vương.

    -> Đánh dấu sự chấm dứt phong trào Cần Vương.

    -> Nêu cao tinh thần chiến đấu gan dạ, kiên cường, mưu trí của nghĩa quân.

    d. Nguyên nhân thất bại của phong trào Cần Vương. (Các cuộc khởi nghĩa lớn).

    - Khách quan: TD Pháp lực lượng còn đang mạnh, cấu kết với tay sai đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân.

    - Chủ quan:

    + Do hạn chế của ý thức hệ phong kiến: “Cần Vương” là giúp vua chống Pháp, khôi phục lại Vương triều Phong kiến. Khẩu hiệu Cần Vương chỉ đáp ứng một phần nhỏ lợi ích trước mắt của nông dân, về thực chất, không đáp ứng được một cách triệt để yêu cầu khách quan của sự phát triển xã hội và nguyện vọng của nhân dân là xoá bỏ giai cấp Phong kiến, chống TD Pháp, giành độc lập dân tộc.

    + Hạn chế của người lãnh đạo: Do thế lực PK VN suy tàn nên ngọn cờ lãnh đạo không có sức thuyết phục (chủ yếu là văn thân, sĩ phu yêu nước thuộc giai cấp PK và nhân dân), hạn chế về tư tưởng, trình độ, chiến đấu mạo hiểm, phiêu lưu. Chiến lược, chiến thuật sai lầm.

    + Tính chất: Các cuộc khởi nghĩa chưa liên kết được với nhau -> Pháp lần lượt đàn áp một cách dễ dàng.

    đ. Ý nghĩa lịch sử phong trào Cần Vương.

    - Mặc dù thất bại xong các cuộc KN trong phong trào Cần Vương đã nêu cao tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu kiên cường, quật khởi của nhân dân ta, làm cho TD Pháp bị tổn thất nặng nề, hơn 10 năm sau mới bình định được Việt Nam.

    - Các cuộc KN tuy thất bại nhưng đã tạo tiền đề vững chắc cho các phong trào đấu tranh giai đoạn sau,

    - Các cuộc KN cho thấy vai trò lãnh đạo của giai cấp PK trong lịch sử đấu tranh của dân tộc.

    3. Phong trào Nông dân Yên Thế. (Khởi nghĩa Yên Thế 1884-1913).

    * Nguyên nhân: Do tình hình kinh tế sa sút dưới thời Nguyễn, khiến cho nông dân đồng bằng Bắc Kì phải rời quê hương lên Yên Thế sinh sống, khi TD Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng Bắc Kì, Yên Thế trở thành mục tiêu bình định của chúng. Để bảo vệ cuộc sống của mình, nhân dân Yên Thế đứng lên đấu tranh chống Pháp.

    - Lãnh đạo: Hoàng Hoa Thám.

    - Căn cứ: Yên Thế (phía Tây tỉnh Bắc Giang) là vùng đất đồi, cây cối rậm rạp, địa hình hiểm trở.

    - Địa bàn hoạt động: Yên Thế là địa bàn hoạt động chính và một số vùng lân cận.

    - Lực lượng: đông đảo dân nghèo địa phương.

    * Diễn biến: (3 giai đoạn).

    - Gđ 1 1884-1892: nghĩa quân hoạt động riêng rẽ.

    - Gđ 2 1893-1908: Nghĩa quân vừa chiến đấu, vừa xây dựng cơ sở, lực lương giữa ta và Pháp chênh lệch. Đề Thám đã 2 lần phải xin giảng hoà với Pháp rồi chuẩn bị lương thực, quân đội sẵn sàng chiến đấu và bắt liên lạc với các nhà yêu nước khác.

    - Gđ 3 1909-1913: Pháp tập trung lực lượng tấn công quy mô lớn lên Yên Thế, lực lượng nghĩa quân bị hao mòn dần.

    * Kết quả: 10/2/1913, Đề Thám bị ám sát, phong trào tan rã.

    * Nguyên nhân thất bại:

    - Phong trào Cần Vương tan rã, TD Pháp có điều kiện để đàn áp KN Yên Thế.

    - Lực lượng nghĩa quân gặp nhiều bất lợi: bị tiêu hao dần, bị khủng bố, mất tiếp tế, thủ lĩnh thì bị ám sát.

    * Ý nghĩa:

    - Khẳng định truyền thống yêu nước, tinh thần bất khuất của nhân dân.

    - Thấy được khả năng lớn lao của nhân dân trong lịch sử đấu tranh của dân tộc.

    III. TRÀO LƯU CẢI CÁCH DUY TÂN CUỐI THẾ KỈ XIX.

    1. Tình hình nước ta nửa cuối thế kỉ XIX.

    - Triều đình Huế thực hiện chính sách nội trị, ngoại giao lỗi thời, lạc hậu

    - Xã hội Việt Nam khủng hoảng nghiêm trọng.

    - Bộ máy chính quyền từ TW đến địa phương mục ruỗng.

    - Nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp đình trệ; tài chính cạn kiệt, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn.

    - Mâu thuẫn dân tộc ngày thêm gay gắt.

    - Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ dữ dội

    => Trong bối cảnh đó các trào lưu cải cách Duy Tân ra đời.

    2. Những đề nghị cải cách ở Việt Nam vào nửa cuối thế kỉ XIX

    * Cơ sở :

    - Đất nước ngày một nguy khốn

    - Xuất phát từ lòng yêu nước thương dân, muốn cho nước nhà giàu mạnh

    * Nội dung :

    -Yêu cầu đổi mới công việc nội trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa của nhà nước phong kiến.

    * Các đề nghị cải cách:

    - Năm 1868 Trần Đình Túc và Nguyễ Huy Tế xin mở cửa biển Trà Lí (Nam Định)

    - Năm 1872, Viện Thương bạc xin mở 3 cửa biển ở Miền Bắc và Miền Trung để thông thương với bên ngoài.

    - Từ 1863-1871 Nguyễn Trường Tộ đã kiên trì gửi lên triều đình 30 bản điều trần đề cập đến một loạt vấn đề như chấn chỉnh bộ máy quan lại , phát triển công thương nghiệp và tài chính...

    - Năm 1877 và 1882, Nguyễn Lộ Trạch dâng dâng hai bản "thời vụ sách " lên vua Tự Đức đề nghị chấn hưng hưng trí, khai thông dân trí...

    3. Kết cục, hạn chế, ý nghĩa của những đề nghị cải cách.

    - Các đề nghị cải cách không thực hiện được

    * Nguyên nhân:

    - Các đề nghị cải cách mang tính chất lẻ tẻ, rời rạc, chưa xuất phát từ những cơ sở bên trong , chưa giải quyết được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội Việt Nam lúc đó.

    - Triều đình bất lực , bảo thủ từ chối thực hiện các đề nghị, cải cách.

    * Ý nghĩa

    - Gây được tiếng vang lớn, tấn công vào những tư tưởng bảo thủ

    - Phản ánh trình độ nhận thức mới của những người Việt Nam hiểu biết, thức thời

    - Chuẩn bị cho sự ra đời phong trào Duy Tân ở Việt Nam vào đầu thế kỉ XX.
     
  2. Trang Dimple

    Trang Dimple Moderator
    Bài viết:
    1,153
    Đã được thích:
    78
    Thành viên BQT

    Chương II: Xã hội Việt Nam(từ năm 1897 đến năm 1918)


    I. CHƯƠNG TRÌNH KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ NHẤT CỦA THỰC DÂN PHÁP ( 1897-1914)

    1. Nội dung cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914).

    * Tổ chức bộ máy Nhà nước:

    - Năm 1897, thành lập Liên bang Đông Dương gồm 5 xứ do Toàn quyền Đông Dương người Pháp đứng đầu.

    - Việt Nam bị chia làm 3 xứ: Bắc Kì, Trung Kì, Nam Kì

    - Bộ máy chính quyền từ TƯ đến địa phương đều do người Pháp chi phối.

    * Nông nghiệp:

    - TDP đẩy mạnh việc cướp đoạt ruộng đát

    - Bóc lột nông dân theo kiểu phát canh thu tô.

    * Công nghiệp:

    - Tập trung vào khai thác than và kim loại

    - Xây dựng một số cơ sở công nghiệp như xi măng, gạch, ngói, điện, nước...

    * Giao thông vận tải:

    - Xây dựng hệ thống giao thông vận tải để tăng cường bóc lột kinh tế và đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân.

    * Thương nghiệp

    - Nắm giữ độc quyền về thị trường.

    - Tăng thêm các loại thuế và đánh thuế nặng.

    =>Mục đích:

    Vơ vét, bóc lột sức người, sức của của nhân dân Việt Nam để làm giàu cho tư bản Pháp.

    * Chính sách về văn hóa, giáo dục.

    - Giai đoạn đầu Pháp duy trì nền giáo dục của thời phong kiến.

    - Về sau Pháp mở trường học mới cùng một số cơ sở văn hóa, y tế.

    - Hệ thống giáo dục phổ thông gồm ba bậc: Ấu học,Tiểu học, trung học.

    => Mục đích: Đào tạo một lớp người bản xứ phục vụ cho công việc cai trị.

    2. Những chuyển biến của xã hội Việt Nam sau cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1914).

    + Giai cấp địa chủ phong kiến đã đầu hàng và trở thành chỗ dựa, tay sai cho thực dân Pháp. Tuy nhiên, có một bộ phận địa chủ vừa và nhỏ có tinh thần yêu nước.

    + Giai cấp nông dân, số lượng đông đảo, bị áp bức bóc lột nặng nề nhất, họ sẵn sàng hưởng ứng, tham gia cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc. Một bộ phận nhỏ mất ruộng đất phải vào làm việc trong các hầm mỏ, đồn điền.

    + Tầng lớp tư sản đã xuất hiện, có nguồn gốc từ các nhà thầu khoán, chủ xí nghiệp, xưởng thủ công, chủ hãng buôn... bị chính quyền thực dân kìm hãm, tư bản Pháp chèn ép.

    + Tiểu tư sản thành thị cũng là tầng lớp mới xuất hiện, bao gồm chủ các xưởng thủ công nhỏ, cơ sở buôn bán nhỏ, viên chức cấp thấp và những người làm nghề tự do. Họ có trình độ học vấn, nhạy bén với thời cuộc,... nên sớm giác ngộ và tích cực tham gia các phong trào cứu nước.

    + Giai cấp công nhân phần lớn xuất thân từ nông dân, làm việc trong các đồn điền, hầm mỏ, nhà máy, xí nghiệp,... lương thấp nên đời sống khổ cực. Đây là giai cấp có tinh thần đấu tranh mạnh mẽ chống đế quốc, phong kiến.


    II. PHONG TRÀO YÊU NƯỚC CHỐNG PHÁP (TRƯỚC CHIẾN TRANH TG1) TỪ ĐẦU TK XX-> NĂM 1918.

    1- Phong trào yêu nước trước chiến tranh TG I (phong trào yêu nước đầu TK XX)

    1.1 Hoàn cảnh:

    - Sau khi Pháp dập tắt phong trào Cần Vương và phong trào Nông dân Yên Thế, TD Pháp bắt tay vào cuộc khai thác Việt Nam trên quy mô lớn, làm cho xã hội Việt Nam có nhiều biến đổi sâu sắc, nhiều giai cấp và tầng lớp ra đời.

    - Trào lưu tư tưởng DCTS đã tràn vào nước ta, tạo nên một phong trào yêu nước phong phú mang màu sắc Dân chủ TS.

    1.2 Các phong trào.

    a. Phong trào Đông Du (1905-1909).

    - Lãnh đạo: Phan Bội Châu.

    - Hình thức, chủ trương: PBC vận động quần chúng lập hội Duy Tân: mục đích nhằm lập ra một nước Việt Nam độc lập, tranh thủ sự ủng hộ của nước ngoài (Nhật). Tổ chức bạo động đánh đuổi Pháp, sau đó xdựng một chế độ chính trị dựa vào dân theo tư tưởng cộng hoà.

    - Hoạt động:

    + Đầu 1905 hội Duy Tân phát động các thành viên tham gia phong trào Đông Du (Du học ở Nhật), nhờ Nhật giúp đỡ về vũ khí, lương thực và đào tạo cán bộ cách mạng cứu nước.

    + Lúc đầu phong trào hoạt động thuận lợi, số học sinh sang Nhật có lúc lên đến 200 người.

    - Kết quả:

    + T9/1908, Pháp câu kết với Nhật, trục xuất những người yêu nước Việt Nam.

    + T3/1909, PBC rời Nhật sang TQ ptrào thất bại, hội Duy Tân ngừng hoạt động.

    b. Phong trào Đông kinh nghĩa thục 1907

    * Hoàn cảnh thành lập

    - Đầu thế kỉ 20 ở Bắc Kì có cuộc vận động cải cách văn hóa, xã hội, theo lối tư sản.

    - Tháng 3/1907 Đông Kinh nghĩa thục thành lập tại Hà Nội

    - Lãnh đạo: Lương Văn Can, Nguyễn Quyền

    * Các hoạt động chính:

    - Mở trường học các môn: Địa lí, lịch sử, khoa học thường thức..

    - Tổ chức bình văn.

    - Truyền bá tri thức mới và nếp sống mới.

    - Lúc đầu hoạt động chủ yếu ở Hà Nội sau lan rộng ra các tỉnh Bắc Kì, lôi cuốn hàng ngàn người tham gia

    * Tác dụng : Tuy chỉ tồn tại trong vòng 9 tháng, nhưng nó có tác dụng to lớn đối với cách mạng Việt Nam

    - Thức tỉnh lòng yêu nước

    - Bước đầu tấn công vào hệ thống phong kiến.

    - Mở đường cho sự phát triển của hệ thống mới tư tưởng tư sản ở Việt Nam

    c. Cuộc vận động Duy Tân và phong trào chống thuế ở Trung Kì (1908).

    - Lãnh đạo: Những nhà nho tiến bộ Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng.

    - Chủ trương: Phan Châu Trinh định dùng những cải cách XH để canh tân đất nước, cứu nước bằng con đường nâng cao dân trí và dân quyền, đề cao tư tưởng DCTS, đòi Pháp phải sửa đổi chính sách cai trị. Chủ trương phản đối bạo động (theo cđường cải lương Tư sản)

    - Phạm vi: diễn ra sôi nổi ở khắp Trung Kì.

    - Hoạt động: phong phú; mở trường, diễn thuyết về xã hội và tình hình thế giới. Tuyên truyền, kêu gọi, mở mang Công - Thương nghiệp, đẩy mạnh sản xuất, đả phá các hủ tục lạc hậu, mê tín dị đoan, bài trừ quan lại xấu.

    - Tác động: ảnh hưởng của phong trào mạnh mẽ khắp Trung kì -> làm bùng nổ các phong trào tiếp theo như phong trào chống thuế ở Trung Kì.

    * Phong trào chống thuế ở Trung Kì (1908).

    - Nguyên nhân: Do tác động của cuộc vận động Duy Tân, nhân dân vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi điêu đứng vì nạn thuế khoá và các phụ thu khác nên rất căm thù TD Pháp.

    - Phạm vi: Phong trào diễn ra ở Quảng Nam rồi lan rộng ra khắp Trung kì.

    - Hình thức: Cao hơn phong trào Duy Tân: đấu tranh trực diện, yêu sách cụ thể, quần chúng tham gia đông, mạnh mẽ.

    - Kết quả: TD Pháp thẳng tay đàn áp, bắt bớ, tù đày, xử tử nhiều nhà yêu nước-> thất bại.

    Nhận xét: Phong trào yêu nước đầu TK XX.

    - Ưu điểm:

    + Phong trào diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ -> Pháp lo lắng đối phó.

    + Nhiều hình thức phong phú, người lao động tiếp thu được những giá trị tiến bộ của trào lưu tư tưởng DCTS.

    - Nguyên nhân thất bại:

    + Những người lãnh đạo phong trào cách mạng đầu TK XX chưa thấy được mâu thuẫn cơ bản trong xã hội Việt Nam là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp, do đó mà không xác định được đầy đủ kẻ thù cơ bản của Việt Nam là TD Pháp và địa chủ phong kiến.

    + Thiếu phương pháp cách mạng đúng đắn, không đề ra được đường lối cách mạng phù hợp.

    + Đường lối còn nhiều thiếu xót, sai lầm:

    ->Phan Bội Châu dựa vào ĐQ để đánh ĐQ thì chẳng khác nào “Đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau”.

    -> Phan Châu Trinh: Dựa vào ĐQ để đánh PK thì chẳng khác gì “Cầu xin ĐQ rủ lòng thương”.

    + Các ph trào chưa lôi kéo được đông đảo quần chúng và các giai cấp tham gia.

    VD: à Đông Du; chủ yếu là học sinh.

    à Đông kinh nghĩa thục; phạm vi - Bắc kì.

    à Duy Tân: Trung kì, Quang Nam, Quảng Ngãi (nông dân).

    => Các phong trào sôi nổi, nhưng cuối cùng thất bại. Vì vậy có thể nói: các phong trào yêu nước đầu TK XX mang màu sắc DCTS đã lỗi thời, muốn CM Việt Nam thắng lợi trước hết phải tiến hành CMVS.

    1.3. Những nét mới của phong trào yêu nước đầu TK XX ở Việt Nam.

    - Về tư tưởng: các phong trào yêu nước đầu TK XX đều đoạn tuyệt với tư tưởng PK, tiếp thu tư tưởng DCTS tiến bộ.

    - Về mục tiêu: không chỉ chống ĐQ Pháp mà còn chống cả PK tay sai, đồng thời canh tân đất nước.

    - Về hình thức, phương pháp: mở trường, lập hội, tổ chức cho học sinh đi du học, xuất bản sách báo, vân động nhân dân theo đời sống mới.

    - Thành phần tham gia: ngoài nông dân phong trào còn lôi cuốn được các tầng lớp, giai cấp khác: TS dân tộc, Tiểu TS, công nhân.

    - Người lãnh đạo: là các nhà nho yêu nước tiến bộ sớm tiếp thu tư tưởng DCTS.
     
Đang tải...
Đang tải...