Mọi người ai biết giúp mìh vs đag cần rất gấp ạh :(:((:(:(:(: cảm ơn m.n nhiều.

Thảo luận trong 'Triết học Mác - Lê Nin' bắt đầu bởi Gấu....., 22/8/17.

Lượt xem: 82

  1. Gấu.....

    Gấu..... Thành Viên
    Bài viết:
    1
    Đã được thích:
    1

    Phân tích nội dung cơ bản của nguyên tắc toàn diện; ý nghĩa rút ra từ việc học nội dung nguyên tắc này?
     
    Tags:
    ButNghien Com thích bài này.
  2. Hide Nguyễn

    Hide Nguyễn S.Moderator
    Bài viết:
    4,724
    Đã được thích:
    233

    Em tìm hiểu tại đây : Hãy đăng nhập hoặc đăng ký để xem được links
     
  3. Hide Nguyễn

    Hide Nguyễn S.Moderator
    Bài viết:
    4,724
    Đã được thích:
    233

    Xem thêm:

    Quan điểm toàn diện của chủ nghĩa Mác - Lê nin và vận dụng quan điểm toàn diện để đánh giá cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung - Bài tập học kì - môn Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin



    PHẦN MỞ ĐẦU

    Chúng ta đang sống trong một thời kì mà ở bất cứ nơi đâu trên đất nước Việt Nam này cũng có thể tiến hành giao dịch thương mại. Cứ ngủ dậy gửi một tin nhắn hay rửa mặt dưới nước máy là bạn đã tham gia một giao dịch thương mại. Từ cái tăm, đến gói muối nơi nào cũng có người bán, kẻ mua, cứ có cầu thì nguồn cung sẽ xuất hiện. Chỉ cần có tiền là hàng sẽ được giao tới tận nơi nhanh nhất có thể. Sản phẩm làm ra có thể dùng hoặc đem bán ở bất cứ nơi đâu được giá cao mà không bị bó buộc bởi bất kỳ một luật lệ nào hết. Cao hơn một chút ta thấy trên đất nước xuất hiện nhiều hơn các tập đoàn, công ty nước ngoài. Đấy là còn chưa kể tới các công ty tư nhân chiếm đa số, phân bố ở khắp nơi. Và chúng ta gọi nó một cách nôm na là cơ chế thị trường mở cửa, thông thoáng. Nhưng trong trí nhớ của những người đã trải qua thời kì ấy, chắc không khi nào quên khái niệm cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nói cách khác là cơ chế quan liêu bao cấp. Hình ảnh về nó ấn tượng đến nỗi chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy chỉ bằng vài thao tác đơn giản trên Internet.

    Nghĩ đến quan liêu bao cấp có nhiều người nhìn nó bằng ánh mắt không mấy thiện cảm, có khi còn chê bai, chỉ trích… Nhưng thiết nghĩ sự vật hiện tượng nào cũng nên được nhìn một cách toàn diện trước khi bị đưa ra phán xét, như thế mới đánh giá đúng về nó. Và phải chăng là thật sự cần thiết với việc áp dụng quan điểm toàn diện vào giải quyết vấn đề đang được bàn tới ở đây: cơ chế kế hoạch hóa tập trung – mặt lợi hay cái hại?

    PHẦN NỘI DUNG

    CHƯƠNG 1: QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN

    Phép biện chứng duy vật là môn khoa học nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy. Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống gồm 2 nguyên lý (nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, nguyên lý về sự phát triển), 6 cặp phạm trù cơ bản (cái riêng – cái chung, nguyên nhân – kết quả, tất nhiên – ngẫu nhiên, nội dung – hình thức, bản chất – hiện tượng, khả năng – hiện thực) và 3 quy luật phổ biến (quy luật lượng – chất, quy luật phủ định của phủ định, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập). Từ 2 nguyên lý cơ bản trên, ta xây dựng được 3 quan điểm: Quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển và quan điểm lịch sử - cụ thể. Trong đó, quan điểm toàn diện đóng một vai trò quan trọng bởi bất cứ sự vật hiện tượng nào trong thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú. Do đó, quan điểm toàn diện có ý nghĩa hết sức thiết thực trong cuộc sống.

    I. Lý luận chung về quan điểm toàn diện

    1. Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

    Chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng thế giới tồn tại như một thể thống nhất. Các sự vật hiện tượng và các quá trình cấu thành thế giới đó vừa tồn tại tách biệt với nhau, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau. Cơ sở của sự liên hệ đó chính là tính thống nhất của thế giới vật chất.
    Mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng là khách quan, là vốn có của sự vật, hiện tượng. Đồng thời mối liên hệ còn mang tính phổ biến bởi bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng đều nằm trong các mối liên hệ với những sự vật, hiện tượng khác.
    Quan điểm duy vật biện chứng không chỉ khẳng định tính khách quan, tính phổ biến của sự liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng, các quá trình mà nó còn nêu rõ tính đa dạng của sự liên hệ qua lại: có mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài, có mối liên hệ chung bao quát toàn bộ thế giới và mối liên hệ bao quát một số lĩnh vực của thế giới,có mối liên hệ trực tiếp, mối liên hệ gián tiếp mà trong đó sự tác động qua lại được thể hiện thông qua một hay một vài khâu trung gian, có mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên và liên hệ ngẫu nhiên, có mối liên hệ giữa các sự vật khác nhau và mối liên hệ giữa các mặt khác nhau của sự vât. Trong các mối quan hệ đó, nói chung, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên, mối liên hệ chủ yếu… giữ vai trò quyết định, tùy thuộc vào quan hệ hiện thực xác định.

    2. Quan điểm toàn diện trong triết học Mác – Lênin

    Từ việc nghiên cứu quan điểm biện chứng về mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng, triết học Mác – Lênin rút ra quan điểm toàn diện trong nhận thức. Vì bất cứ sự vật, hiện tượng nào trên thế giới đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú, do đó khi nhận thức về sự vật, hiện tượng, chúng ta phải có quan điểm toàn diện, tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một mối liên hệ đã vội vàng kết luận về bản chất hay về tính quy luật của nó.
    Quan điểm toàn diện đòi hỏi để có được nhận thức đúng đắn về sự vật, hiện tượng, một mặt chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật, hiện tượng đó. Mặt khác, chúng ta phải xem xét nó trong mối liên hệ với các sự vật khác (kể cả trực tiếp và gián tiếp). Đề cập đến 2 nội dung này, Lênin viết “muốn thực sự hiểu được sự vật, cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của sự vật đó”.
    Đồng thời quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt từng mối liên hệ, phải biết chú ý tới mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên…để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của bản thân. Đương nhiên, trong nhận thức và hành động, chúng ta cũng cần lưu ý tới sự chuyển hóa lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều kiện nhất định.

    Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, khi tác động vào sự vật, chúng ta vừa phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó, vừa phải chú ý tới những mối liên hệ giữa sự vật ấy với các sự vật khác. Từ đó ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động vào sự vật nhằm đem lại hiệu quả cao nhất.

    Hơn thế nữa, quan điểm toàn diện đòi hỏi, để nhận thức được sự vật cần phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người. Ứng với mỗi con người, mỗi thời đại và trong một hoàn cảnh lịch sử nhất định, con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn những mối liên hệ. Bởi vậy, tri thức đạt được về sự vật cũng chỉ là tương đối, không đầy đủ trọn vẹn. Ý thức được điều này, chúng ta mới tránh được việc tuyệt đối hóa những tri thức đã có về sự vật và tránh xem nó là những chân lí bất biến, tuyệt đối không thể bổ sung, không thể phát triển. Để nhận thức được sự vật, cần phải nghiên cứu tất cả các mối liên hệ, cần thiết phải xem xét tất cả mọi mặt để đề phòng cho chúng ta khỏi phạm sai lầm và sự cứng nhắc.

    Quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phiến diện không chỉ ở chỗ nó chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ. Việc chú ý tới nhiều mặt, nhiều mối liên hệ vẫn có thể là phiến diện nếu chúng ta đánh giá ngang nhau những thuộc tính, những quy định khác nhau của sự vật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó. Quan điểm toàn diện chân thực đòi hỏi chúng ta phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ của sự vật đến chỗ khái quát để rút ra cái bản chất chi phối sự tồn tại và phát triển của sự vật hay hiện tượng đó.

    CHƯƠNG II: VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN ĐỂ ĐÁNH GIÁ CƠ CHẾ KINH TẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP TRUNG

    1. Nguồn gốc của cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung.

    Ngày 30/4/1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hoàn toàn thắng lợi ,đất nước ta hoàn toàn thống nhất sau 21 năm kháng chiến trường kì. Cả nước bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển kinh tế -xã hội .Định hướng của Đảng và Nhà nước: xây dựng nền kinh tế theo mô hình kế hoạch hóa tập trung mà hiện nay Đảng cộng sản Việt Nam gọi là mô hình “quan liêu bao cấp’’. Cơ chế này có nguồn gốc từ mô hình phát triển kinh tế xã hội và cơ chế quản lí kinh tế kế hoạch hóa tập trung của các nước xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là Liên Xô.

    Cơ chế này có những ưu điểm thích hợp cho hoàn cảnh hiện tại của đất nước lúc đó , nhưng cũng có nhiều hạn chế kìm hãm sự phát triển kinh tế của đất nước sau này . Vậy cơ chế đó như thế nào? Có ưu nhược điểm gì? Sau đây chúng ta sẽ cùng đi tìm hiểu.

    2.Ngày nay, khi nhắc đến cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung ta thường chỉ nghĩ đến các mặt tiêu cực của nó.

    Thứ nhất, khi nền kinh tế thế giới chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu dựa trên việc áp dụng các thành tựu của nền khoa học và công nghệ hiện đại thì cơ chế này thủ tiêu sự cạnh tranh, kìm hãm tiến bộ khoa học công nghệ. Điều đó làm cho nền kinh tế nước ta lâm vào khủng hoảng trầm trọng

    Thứ hai, nhà nước quản lí kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính dựa trên hệ thống chỉ tiêu, pháp lệnh chi tiết áp đặt từ trên xuống dưới. Tính pháp lệnh thể hiện ở chỗ: nhà nước xây dựng các chỉ tiêu chủ quan, sau đó đưa xuống cho các doanh nghiệp, thậm chí cả hợp tác xã thực hiện. Các doanh nghiệp hoạt động trên cơ sở quyết định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chỉ tiêu pháp lệnh được giao. Hệ thống chỉ tiêu được thể hiện ở chỗ: nhà nước thực hiện chế độ bao cấp đối với mọi đơn vị cấp dưới và doanh nghiệp nhà nước kể cả hợp tác xã ( Hình 3). Cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, từ cấp vốn, sản xuất đến khâu phân phối sản phẩm nhưng lại không chịu trách nhiệm gì về vật chất và pháp lí với các quyết định của mình( Hình 4). Giữa cơ quan hành chính trực tiếp tham gia vào quá trình lên chỉ tiêu kế hoạch và các doanh nghiệp thực hiện chỉ tiêu thì lại không có bất kì sự ràng buộc pháp lí nào với hành động của mình, tức là dù có làm sai đi chăng nữa thì họ cũng không có vấn đề gì cả, vì vậy mà không có lí do nào khiến họ thực hiện kế hoạch một cách tối ưu nhất. Vấn đề mà cả hai bên quan tâm đó là chạy theo và chạy đua với chỉ tiêu được ấn từ trên xuống. Ở giai đoạn này, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể được coi trọng đặc biệt. Từ đó hạn chế sự phát triển của các thành phần kinh tế khác, kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, triệt tiêu động lực kinh tế, lao động sáng tạo đối với người lao động, không kích thích tính năng động, sáng tạo của các đơn vị sản xuất kinh doanh.

    Thứ ba, bộ máy quản lí cồng kềnh, nhiều cấp trung gian . Bộ máy quản lí này vừa kém năng động vừa sinh ra đội ngũ kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu, nhưng lại được hưởng quyền lợi cao hơn người lao động. Hoạt động kinh tế kém hiệu quả. Trong thực tế, bộ máy nhà nước và doanh nghiệp quốc doanh còn xuất hiện tính tham ô.

    Thứ tư, các hoạt động giao dịch thương mại còn nhiều hạn chế: bán như cho, mua như cướp (Hình 5). Giá bán thấp hơn nhiều so với số vốn bỏ ra nên mới có chuyện nhiều người dân tìm cách giấu lúa và nhiều chuyện dở khóc dở cười. Ai mua thứ gì cũng phải đến hợp tác xã mua bán hay cửa hàng mậu dịch quốc doanh. Để mua được thì rất khó khăn vì không đủ để cung cấp, mọi người phải xếp hàng chầu chực để được mua với đặc trưng là chế độ tem phiếu: vật phẩm tiêu dùng được phân phối theo định mức chứ không theo khả năng lao động. Tức là người làm ít và người làm nhiều đều được phân phát vật phẩm như nhau. Vì thế chế độ này thủ tiêu động lực kích thích người lao động và phá vỡ nguyên tắc phân phối theo lao động.

    Thứ năm, trong thời kì này lạm phát bùng nổ. Tiền phát hành nhiều mà vẫn không đủ, lương công nhân không có; vật tư hàng hóa khan hiếm. Giá bán lương thực dù tăng mười lần vẫn không đủ để bù đắp chi phí. Sản xuất nông nghiệp sa sút, đầu tư trong công nghiệp giảm. Chỉ số giá bán lẻ của thị trường xã hội năm 1986 tăng 587,2% so với năm 1985. Do đồng tiền mất giá, người ta quay sang lấy vàng làm bản vị, khiến giá vàng tăng vọt, còn nhanh hơn cả tăng giá hàng hóa. Tình trạng khan hiếm hàng hóa khiến cuộc sống chật vật không những về số lượng mà cả về phẩm chất của nhiều mặt hang

    Tuy nhiên theo quan điểm toàn diện chỉ nhìn sự vật, hiện tượng ở một mặt, một chiều thì không thể đánh giá chính xác sự vật, hiện tượng mà cần phải đặt nó vào mối liên hệ cụ thể trong từng hoàn cảnh, điều kiện lịch sử tương ứng. Cụ thể như cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, khi nhìn phiến diện ta chỉ có thể nhìn thấy mặt tiêu cực mà không thể nhìn thấy những ưu điểm của nó.

    Nhìn một cách toàn diện, ta thấy bên cạnh những hạn chế, yếu kém của chế độ kinh tế tập trung thì trong hoàn cảnh giai đoạn lịch sử những năm 70/XX chế độ kinh tế tập trung cũng có những ưu điểm đóng góp nhất định cho đất nước:

    Xét về mặt kinh tế: Trong những năm 70/XX, thời kì kinh tế tăng trưởng theo chiều rộng, tức là dựa vào tăng đầu tư khai thác tài nguyên, sức lao động giá rẻ và một số lợi ích khác, cơ chế kinh tế tập trung có tác dụng nhất định. Nó cho phép tập trung tối đa các nguồn lực kinh tế, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả nước vào các mục tiêu chủ yếu trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể, nhất là trong quá trình công nghiệp hóa theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng. Cơ chế này đã tạo nên sự thống nhất, đồng bộ trong việc thực hiện các mục tiêu của cả nước .

    Xét về mặt xã hội – chính trị:

    Những năm 70/XX, thời kì đất nước còn đang nằm dưới bom đạn chiến tranh, hai miền Nam – Bắc còn bị chia cắt. Mục tiêu và nguyện vọng cùa cả dân tộc là đánh đuổi Mĩ Ngụy, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước “ Non sông Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Trong hoàn cảnh đất nước ấy, cơ chế quản lý kinh tế hóa tập trung đã đáp ứng được yêu cầu của thời chiến: Tạo nên sức mạnh đoàn kết toàn dân, toàn quân, hậu phương – tiền tuyến chung lòng. Thực hiện kế hoạch hóa tập trung sẽ huy động được tối đa sức lực của toàn nhân dân trong việc xây dựng và phát triển kinh tế, giúp miền Bắc hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ hậu phương chi viện cho miền Nam. Nhiệm vụ và mục tiêu là giải phóng miền Nam thống nhất đất nước là của toàn dân tộc chứ không riêng cá nhân ai.

    Mặt khác, những người chiến sĩ khi ra chiến trường có thề yên tâm về gia đình, cha mẹ, vợ con ở nhà bởi mọi thứ đã được nhà nước bao cấp.

    Chiến thắng lịch sử năm 1975, đất nước dành thắng lợi hoàn toàn, thống nhất trên toàn lãnh thố. Sự thắng lợi ấy cũng có phần nào vai trò của cơ chế kinh tế tập trung .

    Sau khi đất nước thống nhất, nhiệm vụ trước mắt quan trọng nhất lúc bấy giờ là khôi phục và phát triển kinh tế, khắc phục hậu quả chiến tranh. Chế độ kinh tế hóa tập trung đã huy động được tinh thần, sức mạnh đoàn kết toàn dân. Nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh ở hai miền Nam – Bắc, đưa đất nước sang giai đoạn phát triển.

    Như vậy nếu nhìn một cách toàn diện, đánh giá đa góc cạnh thì chế độ kinh tế tập trung cũng có nhiều ưu điểm nhất định trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam những năm 70/XX.
    3.

    Điểm phân biệt giữa quan điểm toàn diện và chủ nghĩa Triết chung ở chỗ: trong khi nhìn nhận sự vật, hiện tượng trong tổng thể các mối liên hệ của nó, quan điểm toàn diện nhận thức được đâu là mối liên hệ quan trọng, cơ bản hơn để từ đó đưa ra nhận định đúng đắn mà không hề dàn trải hay cứng nhắc. Áp dụng vào vấn đề đang bàn luận, ta dễ dàng nhận thấy mối liên hệ cơ bản nhất với cơ chế quan liêu bao cấp ở đây chính là hoàn cảnh lịch sử của đất nước.

    Liên hệ một chút tới đánh giá của quốc tế thì trong bài trả lời phỏng vấn hãng tin nhà nước Rusia Today ( RT) vào ngày 15/2 vừa qua, Viện sĩ Yevgeny Primakov 85 tuổi, người từng đảm nhiệm chức vụ Thủ tướng Liên Bang Nga đã không ngớt lời tôn vinh mô hình kinh tế của Liên Bang Xô Viết trước đây. Nhưng đó chỉ là một thời đã qua với cả Liên Bang Xô Viết và Việt Nam ta bởi cả hai đều đã tiến hành cải cách kinh tế ( ở Liên Xô là năm 1965 và Việt Nam là 1986 ). Nói như thế không có nghĩa cơ chế bao cấp không hiệu quả nên phải thay đổi mà vì nó không còn phù hợp nữa.Ở nước ta, thời kì đầu với hào khí dân tộc đang lên sau chiến thắng lẫy lừng của cuộc kháng chiến chống Pháp, cũng như do được sống trong một chế độ hoàn toàn mới, độc lập, tự do nên người dân tràn đầy hy vọng sẵn sàng đóng góp công sức, tiền của của mình cho công cuộc xây dựng chế độ xã hội mới, chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì thế lúc bấy giờ, cơ chế kế hoạch hóa tập trung là hoàn toàn phù hợp. Và thực tế đã chứng minh tính đúng đắn của nó thông qua sức mạnh toàn dân tộc mà nó tạo nên đã giúp nước nhà đánh tan giặc Mỹ, nước non thu về một mối.

    Tuy nhiên, mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung đã dần bộc lộ rõ ràng hơn những hạn chế hết sức to lớn mà trước đấy nó được chiến tranh che lấp thì bây giờ đã gây ra hiệu quả trầm trọng mà đất nước phải gánh chịu. Nền kinh tế thiếu năng động, kém hiệu quả, đất nước rơi vào tình trạng lạc hậu, đời sống nhân dân ngày càng trở nên khó khăn, các căng thẳng xã hội cũng vì thế mà gia tăng; dẫn đến một hệ quả tất yếu là ta phải tiến hành cải cách kinh tế năm 1986 đưa đất nước sang giai đoạn phát triển mới.

    Thời thế đã thay đổi thì dứt khoát cơ chế cũng phải thay đổi sao cho phù độ hợp nếu không muốn bị bỏ lại phía sau. Cũng giống như thế để có cái nhìn toàn diện về cơ chế kế hoạch hóa tập trung, ta phải xác định được hoàn cảnh mà nó được áp dụng, đấy là căn cứ quan trọng nhất để ta đánh giá về nó, tránh những đánh giá phiến diện, sai lầm của không ít người hiện nay. Bản thần cơ chế nó không có lỗi, mà là được áp dụng sai thời điểm và cuối cùng thì cũng phải chịu bị phủ định trong quá trình phát triển của kinh tế đất nước bởi một cái mới hơn: cơ chế thị trường.

    Nhìn một cách toàn diện và bao quát về chế độ quan liêu bao cấp thì nó cũng có những mặt ưu điểm riêng. Tuy nhiên mặt ưu điểm lại vô cùng hạn chế thay vào đó là vô số những nhược điểm khiến nước ta phải mất nhiều thời gian để thay đổi nếp nghĩ, tác phong từ chiến đấu sang xây dựng. Bên cạnh đó, tư tưởng bao cấp, sự duy ý chí và chậm đổi mới tư duy đã đưa dân ta đứng trước bao khó khăn vào cuối những năm tám mươi, đầu chín mươi của thế kỷ trước. Hơn nữa trong nền kinh tế hội nhập hiện nay nó lại trở nên vô cùng lạc hậu và không còn phù hợp nữa. Tất cả những hạn chế trên không thể đổi lỗi cho cụ thể một cá nhân nào mà nó phải xét trên nhiều yếu tố và các mặt khác nhau.

    Thứ nhất là sự quản lý chưa đúng đắn, thiếu kinh nghiệm của đảng ta. Đảng ta đã nghiêm túc kiểm điểm, công khai thừa nhận những sai lầm, khuyết điểm trước nhân dân và cho rằng, nguyên nhân chính của những sai lầm, khuyết điểm trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975-1985) của Đảng ta là do bệnh nóng vội, chủ quan, duy ý chí, từ đó dẫn đến sai lầm về bố trí cơ cấu kinh tế, cơ chế quản lý phân phối lưu thông, cải tạo xã hội chủ nghĩa; sai lầm về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện.
    + Nhà nước quản lý kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh hành chính, xây dựng các chỉ tiêu một cách chủ quan, áp đặt từ trên xuống dưới khiến cho các doanh nghiệp chỉ quan tâm duy nhất đến việc hoàn thành chỉ tiêu, hạn chế sáng tạo.
    + Các cơ quan hành chính can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp. Làm hạn chế sự phát triển và đóng góp vào nền kinh tế của các thành phần kinh tế khác.
    + Quan hệ hàng hóa tiền tệ bị coi nhẹ
    + Bộ máy quản lý cồng kềnh nhiều cấp trung gian. Hệ thống thể chế chưa đồng bộ, còn chồng chéo, thiếu thống nhất, thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp, trật tự kỷ cương chưa nghiêm.
    Hai là đội ngũ cán bộ công chức còn nhiều yếu kém về phẩm chất, tinh thần, trách nhiệm. Không ít cán bộ, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước làm việc thiếu tích cực. Điều đó thể hiện ở chỗ: nhiều cán bộ, công chức bảo thủ trong cách nghĩ, cách làm, thiếu sự năng động, sáng tạo và đổi mới; cách làm việc quan liêu, hành chính hoá, không thạo việc, tác phong chậm chạp, rườm rà, thái độ thờ ơ, thiếu trách nhiệm... dẫn đến sự trì trệ về phương thức hoạt động trong các cơ quan hành chính. Vẫn còn tồn tại không ít hiện tượng áp đặt, quan liêu cửa quyền, tham nhũng, hối lộ, tuỳ tiện, coi thường kỷ cương, kỷ luật công vụ.
    Ba là, trong xu thế hội nhập và phát triển quốc tế như hiện nay, các nước phát triển đang sử dụng những ưu thế của mình gây ảnh hưởng, tạo sức ép, làm tổn hại nền độc lập dân tộc của những nước chậm phát triển, trong đó có Việt Nam. Nếu như trước đây, chúng ta vì Độc lập mà buộc phải hy sinh "No cơm, ấm áo", thì nay "No cơm, ấm áo" đang trở thành "mồi nhử" của những nước lớn, nhằm làm méo mó nội dung độc lập dân tộc của nhiều nước nghèo và nhỏ. Trong bối cảnh tình hình này, không cho phép chúng ta tách mình biệt lập với cộng đồng thế giới, mà phải chủ động tham gia hội nhập kinh tế khu vực và thế giới, chủ động khai thác những thuận lợi từ bên ngoài, dựa vào những tập hợp lực lượng có lợi, hạn chế những tác động tiêu cực. Quá trình đó được kết hợp chặt chẽ với yêu cầu tăng cường tiềm lực quốc phòng - an ninh để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Thông qua hội nhập quốc tế, khu vực các nước ASEAN để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ.
    Những nguyên nhân trên đã cho ta thấy tại sao chế độ quan liêu bao cấp lại tồn tại nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với nước ta trong thời bình. Nước ta đang hướng tới đổi mới tiến hành chuyển dần từ nền kinh tế tập trung ,quan liêu ,bao cấp sang thực hiện cơ chế thị trường. Có như vậy nền kinh tế nước ta mới có thể được cải thiện và phát tiển vững mạnh. Tạo điều kiện để kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển thuận lợi, tạo dựng được các mối quan hệ với các nước đang phát triển, hơn nữa là các nước phát triển để nước ta có thể chiếm lại ưu thế và sức ảnh hưởng trên thị trường quốc tế.

    PHẦN KẾT LUẬN

    Áp dụng quan điểm toàn diện về cơ chế kế hoạch hóa tập trung ở Việt Nam đã cho ta cái nhìn sâu, rộng, đúng đắn về vấn đề này. Mặc dù còn bộc lộ rất nhiều hạn chế nhưng ta không thể phủ nhận vai trò và ưu điểm của cơ chế này. Khi nhìn nhận nó cần xem xét trên mọi mặt, mọi mối quan hệ thì mới xác định được đâu là những mặt nổi bật, những mối quan hệ quan trọng nhất. Từ đó ta sẽ thấy được bản chất cơ chế kế hoạch hóa tập trung không phải là tiêu cực mà chỉ là không được vận dụng sáng tạo, đúng đắn vào tình hình đất nước cũng như bối cảnh lịch sử nước ta bấy giờ ,chính vì vậy mới dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng. Nhận thức được điều đó Đảng ta đã đề ra đường lối phát triển kinh tế mới và khắc phục những hạn chế của cơ chế kế hoạch hóa tập trung mà vẫn đi theo con đường xã hội chủ nghĩa.

    Từ vấn đề nêu trên ta càng nhận thức rõ hơn về vai trò quan trọng của quan điểm toàn diện khi nhìn nhận một vấn đề:
    - Quan điểm này đã cung cấp cho chúng ta cái nhìn đúng đắn, khách quan về sự vật, hiện tượng để rút ra bản chất. Phải đặt nó giữa các yếu tố bộ phận, các thuộc tính khác nhau của chính sự vật đó và mối quan hệ giữa sự vật đó với sự vật khác ,đồng thời luôn đặt trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn của con người.
    - Vận dụng quan điểm toàn diện vào hoạt động thực tiễn đòi hỏi chúng ta phải có các biện pháp, phương tiện khác nhau để hiểu cho rộng nhưng cũng cần xác định đâu là cái cơ bản, cái quan trọng để hiểu sâu sắc vấn đề . Mà theo như Lê - nin là kết hợp chặt chẽ giữa “chính sách dân chủ” và chính sách “có trọng điểm”.

    Sưu tầm
     
  4. Hide Nguyễn

    Hide Nguyễn S.Moderator
    Bài viết:
    4,724
    Đã được thích:
    233

    Phân tích quan điểm toàn diện? cho ví dụ ?

    Nội dung cơ bản như sau:
    - Quan điểm toàn diện: đòi hỏi chúng ta nhận thức về sự vật trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của chính sự vật và trong sự tác động qua lại giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả mối liên hệ trực tiếp và mối liên hệ gián tiếp. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể nhận thức đúng về sự vật. Chẳng hạn, muốn nhận thức đúng và đầy đủ tri thức của khoa học triết học, chúng ta còn phải tìm ra mối liên hệ của tri thức triết học với tri thức khoa học khác, với tri thức cuộc sống và ngược lại, vì tri thức triết học được khái quát từ tri thức của các khoa học khác và hoạt động của con người, nhất là tri thức chuyên môn được chúng ta lĩnh hội.
    Đồng thời, quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải biết phân biệt các mối liên hệ, phải biết chú ý đến các mối liên hệ bên trong, mối liên hệ bản chất, mối liên hệ chủ yếu, mối liên hệ tất nhiên ... để hiểu rõ bản chất của sự vật và có phương pháp tác động phù hợp nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong sự phát triển của bản thân. Đương nhiên, trong nhận thức và hành động, chúng ta cần lưu ý tới sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mối liên hệ ở những điều kiện xác định. Trong quan hệ giữa con người với con người, chúng ta phải biết ứng xử sao cho phù hợp với từng con người. Ngay cả quan hệ với một con người nhất định ở những không gian khác nhau hoặc thời gian khác nhau, chúng ta cũng phải có cách giao tiếp, cách quan hệ phù hợp như ông cha đã kết luận: “đối nhân xử thế”.
    Trong hoạt động thực tế, theo quan điểm toàn diện, Trong 20 năm đổi mới Đảng ta không những phải chú ý tới những mối liên hệ nội tại của nó mà còn phải chú ý tới những mối liên hệ của sự vật ấy với các sự vật khác. Đồng thời chúng ta phải biết sử dụng đồng bộ các biện pháp, các phương tiện khác nhau để tác động nhằm đem lại hiệu quả cao nhất. Để thực hiện mục tiêu : “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, một mặt chúng ta phải phát huy nội lực của đất nước ta; mặt khác phải biết tranh thủ thời cơ, vượt qua thử thách do xu hướng quốc tế hoá mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và toàn cầu hoá kinh tế đưa lại.
    - Quan điểm lịch sử cụ thể:đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật và tác động vào sự vật phải chú ý điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra tồn tại và phát triển. Một luận điểm nào đó là luận điểm khoa học trong điều kiện này nhưng sẽ không phải là luận điểm khoa học trong điều kiện khác. Chẳng hạn, thường thường trong các định luật của hoá học bao giờ cũng có hai điều kiện: nhiệt độ và áp suất xác định. Nếu vượt khỏi những điều kiện đó định luật sẽ không còn đúng nữa. Trong lịch sử triết học khi xem xét các hệ thống triết học bao giờ chúng ta cũng xem xét hoàn cảnh ra đời và phát triển của các hệ thống đó .
    - TK: Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử - cụ thể, quan điểm phát triển góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng ta. Song để thực hiện được chúng, mỗi chúng ta cần nắm chắc cơ sở lý luận của chúng - nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình. Đối với sinh viên, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, vẫn có thể sử dụng các nguyên tắc phương pháp luận đó vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình góp phần xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, xã hội ta ngày càng tươi đẹp.
     
  5. Hide Nguyễn

    Hide Nguyễn S.Moderator
    Bài viết:
    4,724
    Đã được thích:
    233

    Thế nào là quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể? Cho ví dụ. Các quan điểm đó được xác lập trên cơ sở lý luận nào?


    - Cơ sở lý luận của quan điểm toàn diện, phát triển va lịch sử cụ thể:

    Quan điểm toàn diện, phát triển và lịch sử cụ thể là những quan điểm cơ bản thuộc về phương pháp luận của phép biện chứng duy vật. Chúng được xây dựng trên cơ sở lý giải theo quan điểm duy vật biện chứng về tính khách quan, tính phổ biến và tính đa dạng phong phú của các mối liên hệ và sự phát triển của tất thảy các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

    - Nội dung chính của quan điểm toàn diện

    Trong hoạt động nhận thức và thực tiễn cần phải xem xét sự vật trên nhiều mặt, nhiều mối quan hệ của nó. Thực hiện điều này sẽ giúp cho chúng ta tránh được hoặc hạn chế được sự phiến diện, siêu hình, máy móc, một chiều trong nhận thức cũng như trong việc giải quyết các tình huống thực tiễn, nhờ đó tạo ra khả năng nhận thức đúng được sự vật như nó vốn có trong thực tế và xử lý chính xác, có hiệu quả đối với các vấn đề thực tiễn.

    Ví dụ, khi phân tích bất cứ một đối tượng nào, chúng ta cũng cần vận dụng lý thuyết hệ thống, tức là: xem xét nó được cấu thành nên từ những yếu tố, bộ phận nào với những mối quan hệ ràng buộc và tương tác nào, từ đó có thể phát hiện ra thuộc tính chung của hệ thống vốn không có ở mỗi yếu tố (thuộc tính “trời”); mặt khác, cũng cần phải xem xét sự vật ấy trong tính mở của nó, tức là xem xét nó trong mối quan hệ với các hệ thống khác, với các yếu tố tạo thành môi trường vận động, phát triển của nó...

    - Nội dung chính của quan điểm phát triển

    Trong nhận thức và thực tiễn cần phải xem xét sự vật theo một quá trình không ngừng thay đổi về chất ở trình độ cao hơn qua sự biểu hiện của nó ở các giai đoạn, các hình thái xác định, nhờ đó giúp cho chúng ta nhận thức được sự vật theo một quá trình không ngừng phát triển của nó. Cũng từ đó có thể dự báo được giai đoạn, hình thái phát triển trong tương lai của nó.

    Ví dụ, C. Mác đã đứng trên quan điểm phát triển đế phân tích sự phát triển của xã hội loài người qua các hình thái tổ chức kinh tế - xã hội hoặc ông đã đứng trên quan điểm đó để phân tích lịch sử phát triển của các hình thái giá trị: từ hình thái trao đổi ngẫu nhiên đến hình thái cao nhất của nó là hình thái tiền tệ,...

    - Nội dung chính của quan điểm lịch sử cụ thể

    Trong nhận thức và thực tiễn cần phải xem xét sự vật

    Trong các mối quan hệ và tình huống xác định, các giai đoạn vận động, phát triển xác định; cũng tức là: khi nhận thức và xử lý các tình huống thực tiễn cần phải tránh quan niệm chung chung trừu tượng, thiếu tính xác định lịch sử cụ thể; tránh chiết trung, nguỵ biện.

    Như vậy, khi thực hiện quan điểm toàn diện và phát triển cần phải luôn luôn gắn với quan điểm lịch sử cụ thể thì mới có thể thực sự nhận thức chính xác được sự vật và giải quyết đúng đắn, có hiệu quả đối với các vấn đề thực tiễn.


    Tổng hợp
     
Đang tải...
Đang tải...