1. DIỄN ĐÀN BÚT NGHIÊN - GIẤC MƠ VIỆT 4.0
    HỌC TẬP SUỐT ĐỜI, Tri thức đại học, Ứng nhân xử thế, Bài học làm giàu, Nghĩ lớn làm lớn, KHỞI NGHIỆP,
  2. Dismiss Notice
  3. Dismiss Notice

Phương thức ngữ pháp là gì?

Thảo luận trong 'NGÔN NGỮ HỌC' bắt đầu bởi Trang Dimple, 15/5/18 lúc 16:03.

  1. Trang Dimple

    Trang Dimple Moderator Thành viên BQT

    Your ADS Here
    Contact: Admin@Butnghien.com
    Phương thức ngữ pháp là gì?

    Thường mỗi một ý nghĩa ngữ pháp được thể hiện bằng một hình thức nhất định trong mỗi một ngôn ngữ. Hình thức khái quát được dùng thống nhất trong một ngôn ngữ hay nhiều ngôn ngữ được xem như một cách thức để chuyển tải một ý nghĩa nào đó mà ta gọi là phương thức ngữ pháp. Thường đề cập tới các phương thức ngữ pháp được dùng trong các ngôn ngữ, các nhà nghiên cứu đề cập tới các phương thức phổ biến sau đây:
    1. Phương Thức Thay Đổi Hình Thái.
    Khái niệm thay đổi hình thái được hiểu ở nghĩa rộng là sự khác biệt với thành tố ban đầu. Như vậy, sự thay đổi hình thái có cả một nhóm phương thức. Có thể có các phương thức được dùng phổ biến trong các ngôn ngữ như:

    1. Phương thức thêm phụ tố. Có thể thêm tiền tố, trung tố, hoặc vĩ tố để biểu thị một ý nghĩa chung nào đó. Chẳng hạn, trong tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga đều có sử dụng phương thức phổ biến này.

    Trong tiếng Anh có các tiền tố đáng lưu ý như tiền tố: in, im, ir, inter...

    Tiền tố in có nghĩakhông: indivisible (không thể chia được); indirect (không trực tiếp-gián tiếp); indussoluble (không hòa tan được); indistinct ( không rõ ràng)...

    Tiền tố im cũng có nghĩa không: imbalance (không cân xứng, thiếu cân bằng); immaculate (không tì vết, không có khuyết điểm nào); immobile (không di chuyển được)...

    Tiền tố ir cũng có nghĩa không: irregular (không đều đặn); irrelevant (không thích đáng, không thích hợp); irreparable (không thể sửa lại được)...

    Tiền tố inter có nghĩa ở giữa, qua lại lẫn nhau: interaction (sự tác động qua lại); interchange ( hóan chuyển vị trí, trao đổi lẫn nhau); inter-city (liên hệ giữa các thành phố, liên tỉnh); intercommunication (sự liên lạc với nhau); intercontinental (liên lục địa); international (có tính chất liên quốc gia, có tính quốc tế)...

    2. Phương thức biến dạng căn tố. Phương thức này được thể hiện bằng sự thay đổi thành tố âm, hoặc thành tố chữ viết trong một cặp từ tương ứng nào đó, chẳng hạn: trong tiếng Anh, cặp từ thể hiện số ít và số nhiều, cặp từ chỉ giống đực và giống cái như: mouse và mice; man và men; woman và women, foot và feet, tooth và teeth...

    3. Phương thức thay căn tố cũng là một phương thức ngữ pháp được dùng phổ biến trong các ngôn ngữ biến hình như tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, chẳng hạn trong tiếng Anh, tiếng Pháp có các dạng thức so sánh cấp của tính từ: Good, better, the best trong tiếng Anh hoặc bon, meilleur trong tiếng Pháp.

    4. Phương thức thêm tiếp vĩ tố là phương thức được thực hiện tương đối phổ biến trong các ngôn ngữ nói trên. Chẳng hạn: hình thức thêm -s cho các danh từ chỉ số nhiều trong cả tiếng Pháp và tiếng Anh: le chiens, le chats hoặc books, tables...; hình thức thêm u, i, ư, am... trong tiếng Nga: knhiga, knhigi, knhigu...; xtugentka, xtugentki, xtugentky...


    2. Phương Thức Trật Tự Từ.




    Ðây làì một phương thức được dùng phổ biến trong các ngôn ngữ, nhất là ở các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Việt, tiếng Hán.

    Trong tiếng Việt, hai phát ngôn sau đây có nội dung thông báo khác nhau là do phương thức trật tự từ: tôi thấy nó. hoàn toàn khác với nó thấy tôi.. Tôi đi chợ mua sách. có nghĩa; còn Sách mua chợ đi tôi. là vô nghĩa.


    Trong tiếng Anh hai phát ngôn khác nhau về trật tự cũng mang hai nội dung thông báo khác nhau, chẳng hạn: Are you a student ?; You are a student.. Hai câu này khác nhau ở mục đích phát ngôn: một câu nghi vấn; còn một câu khẳng định.


    Trong tiếng Việt, trật tự từ mang lại cho phát ngôn những khác biệt tinh tế: một phát ngôn rõ nghĩa; còn một phát ngôn mơ hồ về nghĩa, chẳng hạn hai phát ngôn sau đây: Chú tôi bị Pháp bắn trong lúc đi cày. và Chú tôi trong lúc đi cày bị Pháp bắn.. Sự mơ hồ về nghĩa ở phát ngôn đầu đôi khi người viết chỉ nhận ra khi có sự so sánh với phát ngôn tương đồng sau đây: : Chú tôi bị Pháp bắn trong lúc đi càn.


    3. Phương Thức Hư Từ.




    Phương thức sử dụng hư từ là phương thức được dùng phổ biến trong hầu hết các ngôn ngữ từ những ngôn ngữ biến hình đến những ngôn ngữ không biến hình. Chẳng hạn:

    Trong tiếng Anh, việc dùng giới từ trong một số động từ là hết sức quan trọng. Nó có tác dụng phân biệt về mặt ngữ nghĩa rất lớn: look after (trông nom), look forward (mong đợi), look in (tạt vào, ghé thăm trong chốc lát), look up (tra cứu trong sách)...

    Trong tiếng Anh, hai giới từ on và off được dùng trong khá nhiều trường hợp: trong các vật dụng điện và cả trong lĩnh vực thể thao.

    Trong tiếng Việt, phương thức hư từ cũng là một phương thức phổ biến trong ngữ pháp. Các phát ngôn cần có những hư từ mới có nghĩa hoặc rõ nghĩa được, chẳng hạn:câu Tôi tặng quyển sách ấy cho thầy giáo chủ nhiệm lớp. có nghĩa; còn Tôi tặng quyển sách ấy thầy giáo chủ nhiệm lớp. không có nghĩa. Còn hai phát ngôn sau đây là có sự phân biệt trong việc dùng giới từ: Con chó đang nằm trong sân. và Con chó đang nằm ngoài sân.


    4. Phương Thức Ghép Cũng Là Một Phương Thức Được Dùng Phổ Biến Trong Các Ngôn Ngữ.



    Ðây là một phương thức có ý nghĩa sản sinh thường được dùng để tạo từ mới trong các ngôn ngữ.

    Trong tiếng Anh hiện tượng ghép này khá phổ biến, chẳng hạn: boyfriend/ girlfriend; schoolboy/ schoolgirld; post-graduated; postman; head-office; head-phone; head-dress; headache; highschool...

    Trong tiếng Pháp hiện tượng ghép từ cũng được dùng, như: grand-père; petit-enfant...

    Phương thức ghép cũng được dùng khá phổ biến trong tiếng Việt. Ðây là một phương thức có sức sản sinh mạnh trong tiếng Việt, chẳng hạn: văn nghệ (văn học-nghệ thuật); cổ động viên, tuyên truyền viên; tự động hoá, cơ giới hoá...

    5. Phương thức trọng âm là cách thức thể hiện một âm tiết có sự nhấn mạnh về trường độ hoăc cường độ.


    Phương thức trọng âm từ được dùng trong các ngôn ngữ đa âm. Sự phân định về mặt trọng âm có ý nghĩa cho việc nhận diện từ. Phương thức này được dùng trong tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga...

    Trong tiếng Anh, việc thể hiện trọng âm trong các từ là hết sức quan trọng. Người bản ngữ chỉ nhận ra được từ khi được thể hiện đúng trọng âm. Chẳng hạn: sự phân định trọng âm trong các số đếm: thirteen/ thirty; fourteen/ fourty; fifteen/ fifty...Sự thể hiện trọng âm cũng được dùng để nhận biết tính chất từ loại của từ, chẳng hạn: desert (v) [diz(:t] có ý nghĩa: rời bỏ, đào ngủ; còn desert (n) [dez(t] có ý nghĩa: vùng hoang vắng, sa mạc. Record (v) [rik(:d] có ý nghĩa: ghi, thu băng; còn Record (n) [rek(:d] có ý nghĩa: tài liệu, thành tích, kỷ lục...

    Phương thức trọng âm từ không có trong ngôn ngữ đơn lập vì trong loại hình ngôn ngữ này đơn vị từ cũng là tiếng hay âm tiết. Nhưng trong giao tiếp có thể có trọng âm âm tiết. Ðó là những âm tiết được nhấn mạnh về mặt cường độ lẫn trường độ để giúp người nghe nhận diện thông tin. Chẳng: sinh viên mới học ngữ học; đôi chân không nhúng xuống nước; cả trường học nghị quyết; học sinh đến trường học; cả nhà ăn uống vui vẻ; nhà ăn nghỉ phục vụ...