• Diễn đàn Bút Nghiên đang trong quá trình thiết lập nội dung rất mong nhận được sự đóng góp bài viết, tư liệu từ mọi người. Cảm ơn!
    Liên hệ báo tin giả với BQT qua Facebook: Diễn đàn Bút Nghiên

Kiến Quốc Phu Nhân - Lương Thị Minh Nguyệt

Senbien0909

Moderator
Hồi ấy, tại thôn Ngọc Chuế thuộc làng Chuế Cầu, tổng Tử Mặc (nay là Yên Nghĩa), Ý Yên gia đình ông bà họ Lương sinh được một người con gái, gọi là Lương Thị Cô, có sức khỏe, thông minh và xinh đẹp, gọi là Lương Thị Minh Nguyệt 梁氏明月.

Cha mẹ cô muốn gả con cho một nhà thế gia vọng tộc ở huyện bên, song cô một hai xin được lấy chồng người làng, dù nghèo để được gần gũi cha mẹ. Thế là cô đẹp duyên cùng chàng Đinh Tuấn ở xóm trên. Từ khi xuất giá, nàng hết đạo thờ chồng, trên thuận dưới hòa, họ hàng nhà chồng đều quý mến.

Nhà ở gần thành Cổ Lộng qua một cánh đồng, chứng kiến mọi nỗi đau khổ của dân làng phải phục dịch, bị đánh đập tàn nhẫn khi xây thành và hạch sách khi đi ngang qua thành, nên Nguyệt nương rất căm phẫn chúng và thường nói với chồng: “Tang bồng hồ thỉ là trí làm trai, vải tơ tần tảo là phận làm gái. Nhưng ngày xưa đã có bà Trưng, bà Triệu cũng yếm khăn mà vượt cả đàn ông, tên tuổi lưu truyền sử sách...”. Thành ý của bà hợp với tâm nguyện của chồng, nên Đinh Tuấn hết lòng ủng hộ vợ.

AALGPsl.jpeg


GIẶC ĐẾN NHÀ, ĐÀN BÀ CŨNG ĐÁNH !

Vốn là cô gái xinh đẹp, những lúc qua thành Cổ Lộng, Nguyệt Cô thường bị bọn lính Minh trêu ghẹo. Bà bàn với chồng tìm cách mua chuộc, lấy lòng bọn quân lính trong thành Cổ Lộng để dò la tin tức, có dịp báo thù và góp công với nước. Ông Đinh Tuấn liền bảo vợ rằng: "Nếu muốn làm như thế, thì phải mở quán bán hàng, ở ngay phía ngoài thành mới được."

Được lời như mở tấm lòng, bà mở một quán bán nước, quà bánh, rượu phía cửa Càn (cửa Nam) ngay ở bên thành để nắm tình hình địch cụ thể, mưu việc lớn. Còn ông Đinh thì ngầm liên kết với những người có tâm huyết trong vùng để chờ thời cơ hành sự. Lâu ngày, Nguyệt nương đã làm quen được với một số lớn tướng sĩ va quân lính nhà Minh và quán của bà hầu như đã hút hết hồn vía của bọn quan lính người Minh đóng trong thành. Những toán lính khi kéo ra khỏi thành thế nào cũng phải rẽ vào quán vừa uống rượu, nước vừa ngắm nhìn trêu ghẹo giai nhân. Mà khi đã ghé vào đó thì chúng thường là say khướt từ sáng đến tối, ba hoa đủ mọi chuyện. Những cuộc hành binh tới các vùng lân cận để cướp bóc của cải, cưỡng hiếp đàn bà con gái của chúng cứ thu hẹp dần.
Tự tin, đầu lĩnh quân Minh còn cho phép Nguyệt Cô và người giúp việc mang rượu thịt vào bán cho những người ở trong thành, vì bận canh gác mà không ra quán được. Hơn nữa lũ lính Minh vốn rất sợ muỗi nên sắm mỗi tên một cái túi ngủ. Đêm đêm, trừ những tên đến phiên gác, còn thì chui hết vào trong túi, nhờ người bên ngoài thắt nút lại cho kín. Bà và vài người nữ giúp việc lại được chúng tín cẩn giao việc này. Do đó mà mọi ngõ ngách, chỗ nào giặc chức lương thực, vũ khí trong thành Nguyệt Cô đều biết rõ.
Khi ấy, sau thời gian hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá (1418-1423), tiến vào phía nam (1424-1425), thế lực của Bình Định Vương đã mạnh. Vương sửa soạn ra đánh thành Đông Quan. Trên đường tiến quân thì gặp thành Cổ Lộng chặn đường. Vương liền họp các tướng sĩ lại để bàn tìm cách phá thành Cổ Lộng, nhổ bỏ cái gai, tảng đá cản đường. Giữa lúc các tướng lĩnh đang tìm mưu hiến kế cho Vương thì Nguyệt Cô từ quê nha ra tìm đến dâng kế hạ thành. Bà nói:

- Tôi sẽ bỏ thuốc mê vào rượu cho lính canh uống, rồi đốt lửa làm hiệu để Chủ Tướng đem quân vào chiếm thành. Những nơi chứa lương thực và vũ khí đều được ghi rõ ràng trong tấm bản đồ này.

Ban đầu Bình Định Vương còn nửa tin nửa ngờ. Sau khi được biết rằng bà Lương chính là vợ ông Đinh Tuấn, người vẫn gửi tin tức giặc Minh cho nghĩa quân, Vương rất mừng. Vương cùng các tướng nghe lời tấu trình đã hết lời khen ngợi Nguyệt Cô và dặn bà về nhà theo kế mà hành sự. Đồng thời sai Đại tướng Nguyễn Xí, Đinh Lễ, Bùi Hưng Nhân dẫn 5 nghìn lính tinh nhuệ, đi tắt đường rừng ra thực hiện kế sách đánh lấy thành Cổ Lộng.

Bấy giờ Trấn thủ Trần Hiệp đã thay Thái giám Sơn Thọ chỉ huy quân Minh ở thành Cổ Lộng và sự tàn bạo cùng thói dâm đãng của viên quan này đã vượt xa người tiền nhiệm. Mùa đông đến, bọn lính nhà Minh khi ngủ mỗi đứa thường chui vào một cái bao để tránh muỗi và rét, Nguyệt Cô vẫn được lũ giặc nhờ thắt nút bao. Những đêm đầu, bà thắt hờ để sáng ra bọn giặc đạp bao, nút được cởi mà chui ra. Trong một đêm đầu Đông cuối năm Bính Ngọ (cuối 1426 đầu 1427), gió heo may lạnh, bà Lương theo lệ thường đem rượu thịt vào thành bán rẻ cho bọn giặc. Bà đem theo một số cô gái trẻ nói là để múa hát cho vui. Quân tướng giặc Minh vừa được uống rượu say, vừa được ngắm người đẹp sơm buồn ngủ liền chui vào túi nhờ các giai nhân thắt túi giùm. Lần này bà Lương quấn nhiều vòng thắt nút bao thật chặt. Xong việc “chăm sóc” quan quân Minh, bà cùng các cô gái ra mở cửa thành. Ông Đinh Tuấn cùng đồng đảng đã phục sẵn dẫn Nghĩa quân xông vào. Nghe động, Trần Hiệp và bọn chỉ huy vội vàng đạp túi ngủ để chui ra. Nhưng do nút buộc quá chắc, chúng không sao ra được, nghĩa quân Lam Sơn dùng búa đập lên những túi vải như đập chuột. Lũ lính trong thành không người chỉ huy nhanh chóng tan vỡ, bị nghĩa quân giết sạch không còn một mống. Ta chiếm gọn thành, bắt sống được giặc mà không tốn một giọt máu.

<Tất cả bọn giặc đều bị khiêng vần xuống kênh dưới chân thành để đẩy ra sông Đáy. Cả một khúc kênh dài năm sáu dặm trôi dày đặc xác người, làm nghẽn cả cửa cống thông ra sông Đáy. Đến nỗi dân ở đó về sau phải đặt tên là cống Kinh Ma.

Bình Định vương lại sai phá thành, đem đất trong thành chia cho các làng xung quanh, làng nhiều làng ít căn cứ vào công đóng góp. Đường từ Thanh Hóa ra Đông Quan đã mở thông, Vương giao việc giữ thành lại cho bà Lương và ông Đinh Tuấn rồi tiến thẳng ra bắc, tiến hành chiến dịch cuối cùng: giải phóng Đông Quan (1426-1427), thu hồi non sông gấm vóc Đại Việt.

Đất nước sạch bóng quân thù, mùa Xuân Mậu Thân, 1428 khi “luận công ban thưởng”, Vua hỏi Lương thị muốn được đền đáp công lao thế nào, bà thưa:

-Việc hạ thành Cổ Lộng là nhờ Hồng phúc của Chúa công và sự góp công, góp máu của trăn họ và nghĩa quân. Vợ chồng tôi chỉ góp phần nhỏ mọn và không mong quan tước. Xin Chúa công cho được yên thú điền viên làm người dân áo vải, mãn nguyện khi thấy cảnh non nước thái bình.

Lê Thái tổ không tiện nài ép, phong cho Đinh Tuấn làm Kiến Quốc công, Trung Dũng Đại tướng quân, được ban Quốc tính; phong bà làm Kiến quốc Trung liệt Phu nhân.

Vua ban ân rằng muốn thưởng nghìn vàng hay đất đai, cho phép bà được tuỳ chọn. Nguyệt nương xin ban một con ngựa, sau lưng cột một giỏ trấu, vừa phi ngựa vừa rắc trấu xuống đường, trấu rắc đến địa phận làng nào thì làng đó sẽ là đất phong của bà. Bình Định vương vui vẻ đồng ý. Bà phóng ngựa từ làng Duối, vòng qua làng Nhuộng, làng Bần, làng Mai ước chừng vài chục dặm, xuống đến tận làng Bo thuộc địa phận Phong Doanh thì túi trấu mới rắc còn non nửa. Nhưng bỗng nhiên con ngựa bị dây cỏ quấn vào chân, bốn vó loạn xạ rồi ngã kềnh ra, què mất hai vó trước, túi trấu đổ vung vãi hết xuống mặt ruộng. Đất phong của bà dừng lại ở cánh đồng mà về sau có tên là cánh “Ngựa què”. Những ruông bà dùng trấu đánh dấu dân vẫn được cày cấy như thường, nhưng phải nộp thuế cho Phu nhân.

Tháng Chạp năm Thuận Thiên thứ 5 (01/1432, Nhâm Tý), Lương thị mất. Vua phong sai quan Khâm mạng cùng Trấn Thần về làng Chuế Cầu là lễ quốc tế, truy phong lên tước Vương, sắc cho dân làng Chuế Cầu lập đền thờ hai vị trên nền nhà cũ và cấp 100 mẫu ruộng tốt làm tự điền để lo việc đèn hương. Về sau Lê Thánh Tông phong hai ông bà là Phúc Thần làng Chuế Cầu.


Theo: Lịch Sử Việt Nam
 
Sửa lần cuối:

Bài viết hồ sơ mới nhất

Miền Nam ơi, cố lên nhé!
Mong cuộc sống sớm trở lại bình thường.
Sau giãn cách toàn xã hội, có ai cảm thấy mình như đang sống trong thế giới khác như mình không nhỉ? Lệch đồng hồ sinh học, đầu óc lúc nào cũng mơ màng, đói ngủ :))
Top